Thứ Ba, 30 tháng 8, 2016

Côn trùng - nét ẩm thực đường phố độc đáo tại Campuchia

Côn trùng - nét ẩm thực đường phố độc đáo tại Campuchia

Nếu có dịp ghé thăm đất nước láng giềng Campuchia, hẳn bạn sẽ phải ngạc nhiên trước hình ảnh những chậu côn trùng chiên nướng giòn tan được bày bán ở khắp nơi.


Côn trùng đủ món rất phổ biến ở Campuchia, trước kia đây được coi là món ăn chỉ dành cho người nghèo nhưng đến nay đã trở thành món đặc sản đặc sắc của Campuchia mà bạn có thể dễ dàng tìm thấy từ một góc chợ tuềnh toành nhất đến các nhà hàng khách sạn 5 sao.
Dù có nhiều người e dè trước các món ăn có hình thù xấu xí này nhưng trên thực tế, mùi vị của chúng rất ấn tượng, nếu không muốn nói là ngon. Người campuchia chủ yếu dùng phương pháp chiên hoặc nướng, các loại côn trùng được tẩm ướp gia vị kĩ càng, sau khi nướng hoặc chiên trở nên thơm ngậy, giòn tan giống như một loại snack dùng để ăn chơi. 

Một trong những món ăn từ côn trùng được yêu thích nhất đất nước Chùa Tháp là nhện Skuon

Tới các chợ đêm tại Phnom Penh, bạn sẽ thấy sự đa dạng của các loại côn trùng: từ châu chấu, dế, các loại bọ cánh cứng tới sâu gỗ, gián, nhện...Một số loại có giá rẻ, một số khác lại có mức giá ngất ngưởng cho một lần trải nghiệm. Thực tế, món ăn này có thể khiến bạn liếm môi thèm thuồng. "Khách hàng thường thích ăn côn trùng chiên trong khi uống bia, như một sự thay thế lành mạnh và kì lạ cho các loại ngô rang hoặc đậu phộng" - một người bán hàng cho biết. Người dân Campuchia coi côn trùng như một loại nhu yếu phẩm hàng ngày và ăn kèm với cơm.
Món dế xào - niềm yêu thích của dân nhậu
Chúng ta cũng không thể phủ nhận côn trùng có mặt ở khắp nơi, tổ chức lương thực thế giới cũng đánh giá côn trùng là nguồn thức tương lai mới cho thực phẩm thế giới. Theo báo cáo của Liên hợp quốc, trên thế giới hiện nay có khoảng 2 tỉ người đang xem xét côn trùng là món ăn thậm chí là một món không thể thiếu trong chế độ ăn uống hàng ngày. Côn trùng nói chung có giá trị dinh dưỡng rất cao, hơn cả thịt cả. Chúng giàu protein, chất xơ và các chất dinh dưỡng lành mạnh khác. Rất có thể, xu hướng này được lấy cảm hứng từ nguồn gốc khiêm tốc trong nền ẩm thực Campuchia.

Không chỉ ở Campuchia, rất nhiều vùng miền trên thế giới cũng rất ưa chuộng các món ăn làm từ côn trùng. Ở Nhật có sushi côn trùng, sang New Zealand, bạn có thể ăn trứng dòi còn các món ăn từ kiến, hay châu chấu thì rất phổ biến. Ở Việt Nam, bạn cũng có thể thưởng thức các món ăn từ trứng kiến, bọ cạp, bọ xít.

Đền Angkor Wat

Angkor Wat (tiếng Khmer: អង្គរវត្ត) là một quần thể đền đài tại Campuchia và là di tích tôn giáo lớn nhất thế giới, rộng 162.6 hecta (1,626,000 mét vuông). Ban đầu nó được xây dựng như một đền thờ Ấn Độ giáo dành của Đế quốc Khmer, và dần dần chuyển thành đền thờ Phật giáo vào cuối thế kỷ 12. Vua Khmer Suryavarman II xây dựng Angkor Wat vào đầu thế kỷ 12 tại Yaśodharapura (tiếng Khmer: យសោធរបុរៈAngkor ngày nay), thủ đô của Đế quốc Khmer như là đền thờ và lăng mộ của ông. Khác với truyền thống theo theo đạo Shaiva (thờ thần Shiva) của các vị vua tiền nhiệm, Angkor Wat thờ thần Vishnu. Được bảo tồn tốt nhất trong khu vực, Angkor Wat là ngôi đền duy nhất vẫn giữ được vị trí trung tâm tôn giáo. Ngôi đền là đỉnh cao của phong cách kiến trúc Khmer. Nó đã trở thành biểu tượng của đất nước Campuchia, xuất hiện trên quốc kỳ và là điểm thu hút du khách hàng đầu đất nước.
Angkor Wat là sự kết hợp của hai nét cơ bản của kiến trúc Khmer: kiến trúc đền-núi cùng với những dãy hành lang dài và nhỏ hẹp. Kiến trúc này tượng trưng cho Núi Meru, quê hương của các vị thần trong truyền thuyết Ấn Độ giáo: nằm giữa một con hào và lớp tường bao dài 3.6 km (2.2 dặm) là khu chính điện ba tầng với kiến trúc hình chữ nhật, kết nối với nhau bởi những dãy hành lang sâu thẳm. Trung tâm của ngôi đền là tổ hợp 5 tháp với một tháp trung tâm và bốn tháp tại bốn góc hình vuông. Không giống những ngôi đền theo phong cách Angkor khác, Angkor quay mặt về phía Tây và vẫn chưa có cách giải thích thống nhất về ý nghĩa của điều này. Ngôi đền được ngưỡng mộ bởi vẻ hùng vĩ và hài hòa của kiến trúc, sự phong phú của nghệ thuật điêu khắc và số lượng lớn các vị thần được trang hoàng trên những bức tường đá.
Tên hiện đại của ngôi đền, Angkor Wat, nghĩa là "Thành phố Đền" hay "Thành phố của những ngôi Đền" trong tiếng Khmer; Angkor, nghĩa là "thành phố" hay "thủ đô", là từ nokor (នគរ), được bắt nguồn từ từ tiếng Phạn nagara (नगर), trong tiếng bản xứ: Wat nghĩa là "sân đền" trong tiếng Khmer (tiếng Phạn: वाट "khoảng đất").
Lch s



Vua Suryavarman II, người bắt đầu xây dựng Angkor Wat
Angkor Wat nằm cách thị trấn Xiêm Riệp 5.5 km (3.4 dặm) về phía bắc và chếch về phía đông nam của kinh đô cũ, với trung tâm là đền Baphuon. Đây là một khu vực có nhiều kiến trúc cổ quan trọng và là cực nam của cụm di tích chính Angkor.
Truyền thuyết kể rằng Angkor Wat được xây dựng theo lệnh của Indra để làm cung điện cho con trai Precha Ket Mealea. Theo nhà ngoại giao Chu Đạt Quan (thế kỷ 13), một số người tin rằng ngôi đền được xây dựng chỉ trong một đêm bởi một kiến trúc sư nhà Trời.
Việc thiết kế và xây dựng được tiến hành vào nửa đầu thế kỷ 12 dưới thời vua Suryavarman II (trị vì từ năm 1113 - 1150). Thờ thần Vishnu, ngôi đền được coi như thủ đô và đền thờ của nhà vua. Do không tìm thấy tấm bia nền móng cũng như bất kỳ bản khắc nào nhắc đến ngôi đền vào thời đó, tên ban đầu của nó vẫn là một dấu hỏi, nhưng nó có thể đã được gọi là "Varah Vishnu-lok", theo tên của vị thần được thờ. Công việc có vẻ như đã kết thúc sau khi nhà vua băng hà không lâu, dựa vào một số bức điêu khắc vẫn còn dang dở. Năm 1177, 27 năm sau cái chết của Suryavarman II, Angkor bị tàn phá bởi người Chăm Pa, kẻ thù truyền kiếp của người Khmer. Sau đó vua Jayavarman VII đã phục hưng đế quốc và thành lập một thủ đô và đền thờ mới (Angkor Thom và Bayon) cách Angkor Wat vài kilo mét về phía bắc.
Đến cuối thế kỷ 12, Angkor Wat từ một trung tâm tín ngưỡng Ấn Độ giáo dần chuyển sang Phật giáo và tiếp tục cho đến ngày nay. Không giống nhiều ngôi đền Angkor khác, tuy Angkor Wat một phần bị quên lãng từ sau thế kỷ 16, nó không bao giờ hoàn toàn bị bỏ hoang, một phần nhờ con hào bao xung quanh đã bảo vệ ngôi đền khỏi sự xâm lấn của rừng rậm.
Một trong những người châu Âu đầu tiên đặt chân đến Angkor là António da Madalena, một nhà sư người Bồ Đào Nha đến đây vào năm 1586 và nói rằng "nó là một kiến trúc phi thường mà không giấy bút nào tả xiết, chủ yếu là vì nó không giống bất kỳ công trình nào khác trên thế giới. Nó có những tòa tháp, lối trang trí và tất cả sự tinh xảo mà con người có thể tưởng tượng ra."
Cho đến thế kỷ 17, Angkor Wat vẫn chưa hoàn toàn bị bỏ hoang và có chức năng như một đền thờ Phật giáo. Mười bốn bản khắc chữ có niên đại từ thế kỷ thứ 17 được phát hiện ở khu vực Angkor, cho thấy những người hành hương Phật giáo Nhật Bản có thể đã thành lập các khu định cư nhỏ cùng với người dân địa phương Khmer. Cũng vào thời điểm đó, các du khách Nhật nghĩ rằng ngôi đền là khu vườn nổi tiếng Jetavana của Đức Phật, ban đầu nằm trong vương quốc Magadha, Ấn Độ. Bản khắc nổi tiếng nhất kể về Ukondafu Kazufusa, người đón chào năm mới của người Khmer tại Angkor Wat năm 1632.
Giữa thế kỷ 19, nhà tự nhiên học và thám hiểm người Pháp Henri Mouhot đã đến đây và giúp phương Tây biết đến Angkor Wat nhiều hơn bằng các ghi chép của mình. Trong đó ông viết:
"Một trong những ngôi đền đó-một đối thủ của đền Solomon, và được một số Michelangelo thời cổ đại dựng lên - có thể có một chỗ đứng trang trọng bên cạnh những công trình đẹp nhất của chúng ta. Nó vĩ đại hơn tất cả những gì người Hy Lạp hay La Mã để lại cho chúng ta, và thể hiện một sự tương phản đáng buồn cho tình trạng man rợ mà đất nước đang mắc phải."
Mouhot, cũng giống như những người phương Tây khác, khó tin rằng người Khmer có thể xây dựng được ngôi đền và đã ngỡ rằng nó được xây dựng cùng thời với thành Rome. Lịch sử thực sự của Angkor Wat chỉ được ráp nối lại với nhau bởi các bằng chứng nghệ thuật và bút tích được thu thập trong quá trình dọn dẹp và phục dựng trên cả khu vực Angkor. Không có nhà ở hoặc dấu vết gì của việc định cư như đồ dùng nấu ăn, vũ khí hoặc trang phục thường thấy tại các địa điểm cổ đại. Thay vào đó là các bằng chứng của một di tích lịch sử.
Cần nhiều công sức để phục dựng Angkor Wat vào thế kỷ 20, phần lớn là để loại bỏ đất đá và cây cối bị tích tụ. Công việc này bị gián đoạn do nội chiến và thời kỳ Khmer Đỏ kiểm soát đất nước trong những năm 1970 và 1980, nhưng ngoài nạn trộm cắp và sự xuống cấp của những bực tượng hậu Angkor, không có thiệt hại nào đáng kể được ghi nhận.
Ngôi đền là một biểu tượng mạnh mẽ của Campuchia và là niềm tự hào tổ quốc to lớn đã có ảnh hưởng đến mối quan hệ ngoại giao của Campuchia với Pháp, Hoa Kỳ và người láng giềng Thái Lan. Hình ảnh Angkor Wat đã xuất hiện trên quốc kỳ Campuchia ngay từ khi nó mới được ra mắt vào năm 1863. Tuy nhiên, từ một góc độ lịch sử và văn hóa lớn hơn, trong quá khứ Angkor Wat không phải là một biểu tượng quốc gia độc đáo và đã xuất hiện trong quá trình hình thành nên di sản thuộc Pháp về văn hóa—chính trị. Ngôi đền được giới thiệu tại triển lãm thuộc địa Pháp và thế giới tại Paris và Marseilles vào giữa những năm 1889 và 1937. Vẻ đẹp của Angkor Wat cũng xuất hiện trong bảo tàng thạch cao của Louis Delaporte với tên gọi bảo tàng Đông Dương (musée Indo-chinois) từng nằm trong Cung điện Trocadéro tại Paris từ năm 1880 cho đến giữa thập niên 1920.
Di sản nghệ thuật tuyệt vời của Angkor Wat và các di tích Khmer khác trong khu vực Angkor đã trực tiếp dẫn đến sự bảo hộ của Pháp đối với Campuchia như một thuộc địa vào ngày 11 tháng 8 năm 1863 và sự xâm lược Xiêm La nhằm nắm quyền kiểm soát khu di tích. Điều này nhanh chóng dẫn đến việc Campuchia đòi lại những vùng đất phía tây bắc đã nằm trong quyền kiểm soát của người Xiêm (Thái) từ năm 1351 (Manich Jumsai 2001) hay theo các nguồn khác là năm 1431. Campuchia giành độc lập vào ngày 9 tháng 11 năm 1953 và sở hữu Angkor Wat từ đó đến nay. Có thể nói rằng từ thời kỳ thuộc địa cho đến khi được UNESCO đề cử làm Di sản Thế giới năm 1992, ngôi đền Angkor Wat đã có một vai trò quan trọng trong việc hình thành khái niệm di sản văn hóa hiện đại cũng như sự toàn cầu hóa di sản văn hóa.
Tháng 12 năm 2015, một nhóm nghiên cứu từ Đại học Sydney đã tìm thấy một quần thể tháp được xây dựng và phá hủy trong quá trình hình thành Angkor Wat chưa từng thấy trước đó, cũng như một công trình lớn chưa rõ mục đích tại mặt phía nam và các công sự bằng gỗ. Những phát hiện này cũng bao gồm bằng chứng về sự có mặt của quần thể cư dân mật độ thấp với một mạng lưới đường, các ao và gò. Điều đó chỉ ra rằng khu vực đền bao quanh bởi hào nước và tường, có thể không chỉ dành riêng cho các tu sĩ như những suy nghĩ trước đây. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng LiDARradar xuyên mặt đất và khai quật từng vùng để nghiên cứu Angkor Wat.
Angkor Wat nhìn từ trên cao
Kiến trúc
Vị trí và thiết kế xây dựng

Angkor Wat, nằm ở 13°24′45″B 103°52′0″Đ, là một sự kết hợp độc đáo của chùa chiền và núi. Angkor Wat đạt thiết kế tiêu chuẩn của đền thờ cấp quốc gia và các tiêu chuẩn sau này của phòng trưng bày hiện đại. Ngôi đền là một đại diện của núi Meru, quê hương của các vị thần: các quincunx trung tâm của tháp tượng trưng cho năm đỉnh núi, và các bức tường và hào tượng trưng cho các dãy núi bao quanh và đại dương. Khả năng đi vào các khu vực trên cao của đền thờ càng ngày càng khó, với các giáo dân chỉ được vào tầng thấp nhất.
Không giống như hầu hết các ngôi chùa Khmer, Angkor Wat được định hướng về phía tây hơn là phía đông. Điều này đã khiến nhiều người (kể cả Maurice Glaize và George Coedès) đã kết luận rằng Suryavarman dự định xây đền này làm lăng mộ của mình. Thêm bằng chứng cho quan điểm này là các bức phù điêu, mà tiến hành trong một hướng ngược chiều kim đồng hồ-prasavya trong tiếng Hindu-vì đây là mặt trái của thứ tự bình thường. Nghi lễ diễn ra trong trật tự ngược trong nghi thức tang lễ Brahminic. Nhà khảo cổ học Charles Higham cũng tìm thấy và mô tả một cái lọ có thể là một cái lọ dùng để chứa tro đã được tìm thấy trong tháp trung tâm. Đền đã được đề cử là như là khoản chi phí lớn nhất cho việc xây dựng lăng mộ để lưu trữ xác người chết. Tuy nhiên Freeman và Jacques lưu ý rằng một số ngôi đền khác của Angkor có định hướng khác với định hướng Đông nói chung, và cho rằng việc định hướng Angkor Wat là vì nghi lễ thờ cúng Vishnu, vị thần có liên quan với phương Tây.
Eleanor Mannikka đã đề xuất một lời giải thích thêm về Angkor Wat. Dựa trên định hướng và kích thước của ngôi đền, và trên các nội dung và cách sắp xếp các phù điêu, bà lập luận rằng cấu trúc đền đại diện cho một kỷ nguyên mới với tuyên bố hòa bình dưới thời vua Suryavarman II: "vì các số đo của chu kỳ thời gian mặt trời và mặt trăng đã được gắn vào không gian thiêng liêng của Angkor Wat, nhiệm vụ cai quản đất nước thiêng liêng này được chạm khắc vào phòng và hành lang ngôi đền, với ý nghĩa là để duy trì quyền lực của nhà vua và để tôn vinh và thờ phượng các vị thần ở trên trời." Nhận xét của Mannikka đã được đón nhận với sự kết hợp giữa quan tâm và hoài nghi trong giới học thuật. Bà đã nhận xét khác hẳn với những suy đoán của những người khác, chẳng hạn như Graham Hancock, rằng Angkor Wat là một phần của việc mô phỏng chòm sao Thiên Long.

Hình tượng nữ thần Apsara tại đền
Phong cách

Angkor Wat nhìn từ phía sau
Angkor Wat là ví dụ điển hình của phong cách cổ điển của kiến ​​trúc Khmer—phong cách Angkor Wat. Cho đến thế kỷ thứ 12, các kiến ​​trúc sư Khmer đã trở nên thành thục và tự tin trong việc sử dụng sa thạch (chứ không phải là gạch hoặc đá ong) làm vật liệu xây dựng chính. Hầu hết các khu vực có thể nhìn thấy là các khối sa thạch, trong khi đá ong đã được sử dụng cho các bức tường bên ngoài và cho các bộ phận cấu trúc ẩn. Các vật liệu được sử dụng để kết nối các khối vẫn chưa được xác định, mặc dù các loại nhựa cây hoặc vôi tôi đã được nhắc đến.
Ngôi đền đã nhận được sự tán thưởng cho sự hài hòa trong thiết kế của mình. Theo Maurice Glaize, một người bảo tồn giữa thế kỷ 20 của Angkor, ngôi đền "đã đạt tới sự hoàn hảo kinh điển bởi sự hoành tráng được tiết chế của các yếu tố cân bằng và sự sắp xếp chính xác về tỷ lệ. Nó là một tác phẩm của sức mạnh, sự thống nhất và phong cách."
Về mặt kiến ​​trúc, các yếu tố đặc trưng của phong cách bao gồm: các tháp dạng oval giống như búp sen; các hành lang nhỏ để mở rộng lối đi; các phòng dọc theo các trục để kết nối các khoảnh sân; và các bậc thang hình chữ thập xuất hiện dọc theo các trục chính của ngôi đền. Các yếu tố trang trí điển hình là devata (hoặc apsara), phù điêu, và trên các bức tường áp mát là các vòng hoa lớn và những cảnh dẫn truyện.Các bức tượng của Angkor Wat được đánh giá là bảo thủ, thiếu sinh động và thiếu hấp dẫn hơn những công trình ở trên. Các yếu tố khác của thiết kế đã bị phá hủy bởi nạn cướp bóc và thời gian, bao gồm vữa mạ vàng trên tháp, lớp mạ vàng trên một số bức phù điêu, và các tấm trần và cửa ra vào bằng gỗ.
Các đặc điểm nổi bật
Khoảng không gian bên ngoài=
Bức tường bên ngoài, dài 1,024m (3,360 ft), rộng 802m (2,631 ft) và cao 4.5 m (15 ft), được bao quanh bởi một khu đất rộng 30 m (98 ft) và một con hào rộng 190 m (620 ft). Lối vào đền là một bờ đất ở phía đông và một đường đắp bằng sa thạch ở phía tây. Lối vào chính ở phía Tây được thêm vào sau, có thể nhằm thay thế cho một cây cầu gỗ. Tại mỗi hướng chính đều có một gopura (kiến trúc cổng vào).
Angkor Wat ngày nay
Việc phục dựng Angkor Wat bắt đầu từ khi Viện Viễn Đông Bác cổ (École Française d’Extrême-Orient - EFEO) thành lập chương trình Phục dựng Angkor (Conversation d'Angkor) vào năm 1908. Cho đến lúc đó, các hoạt động tại khu vực chủ yếu là thăm dò. Chương trình chịu trách nhiệm về các hoạt động nghiên cứu, bảo tồn và phục dựng tại Angkor cho đến đầu những năm 1970 và phần lớn việc phục dựng được thực hiện vào những năm 1960. Tuy nhiên, các hoạt động này đã bị dừng lại vào thời Khmer Đỏ.Từ năm 1986 đến năm 1992, tổ chức Nghiên cứu Khảo cổ Ấn Độ (Archaeological Survey of India) tiến hành công việc phục dựng ngôi đền, cho dù đã có những ý kiến tranh cãi về việc sử dụng hóa chất gây ảnh hưởng đến bề mặt đá.
Năm 1992, sau lời kêu gọi giúp đỡ của Quốc vương Norodom Sihanouk, Angkor Wat được cho vào danh sách di sản thế giới bị đe dọa của UNESCO (sau đó đã được gạch tên vào năm 2004) và di sản thế giới cùng với lời kêu cứu của UNESCO đến cộng đồng quốc tế. Năm 1994, các phân vùng đã được thiết lập để bảo vệ khu vực Angkor. Cơ quan quản lý APSARA được thành lập năm 1995 nhằm bảo vệ và quản lý khu vực, và một điều luật đã được thông qua năm 1996 nhằm bảo vệ các di sản tại Campuchia. Một số quốc gia như Pháp, Nhật Bản và Trung Quốc đã tham gia vào các dự án bảo tồn Angkor Wat. Tổ chức Dự án Bảo tồn Apsara Đức đang làm công tác bảo vệ các hoa văn và họa tiết điêu khắc đá khỏi hư hại. Khảo sát của công ty cho thấy khoảng 20 phần trăm các họa tiết đang trong tình trạng tồi tệ, chủ yếu bởi sự xói mòn tự nhiên và sư xuống cấp của đá, nhưng một phần cũng do các cố gắng phục dựng trước đó. Các công việc khác bao gồm sửa chữa các phần bị sụp đổ của cấu trúc, và đề phòng sự sụp đổ thêm: mặt phía tây của tầng trên đã được củng cố thêm bằng giàn giáo từ năm 2002, trong khi một đội từ Nhật Bản đã hoàn thiện việc phục dựng thư viện phía bắc của khoảng đất phía ngoài năm 2005. Quỹ Di tích Thế giới (World Monuments Fund) bắt đầu công việc phục dựng hành lang Churning of Sea of Milk năm 2008 sau một vài năm nghiên cứu tình trạng. Dự án khôi phục hệ thống mái truyền thống của người Khmer và loại bỏ xi măng được dùng trong các lần phục dựng trước khiến muối thấm vào sau các bức điêu khắc đá, làm phai màu và gây hư hại các bề mặt điêu khắc.
Chiếc đầu được phục dựng của một naga trên đường dẫn vào Angkor Wat. Đường dẫn được khôi phục đầu tiên bởi người Pháp vào những năm 1960.
Màng vi sinh vật sinh học đã tìm thấy đá sa thạch đang xuống cấp tại Angkor Wat, Preah Khan, và Bayon và Tây Prasat ở Angkor. Sự mất nước và vi khuẩn lam dạng sợi chống bức xạ có thể sản xuất các axit hữu cơ phân hủy đá. Một loại nấm tối dạng sợi đã được tìm thấy trong các mẫu vật trong và ngoài Preah Khan, trong khi tảo Trentepohlia chỉ được tìm thấy trong các mẫu vật lấy từ đá hồng bên ngoài Preah Khan. Các bản sao cũng đã được thực hiện để thay thế một số các điêu khắc bị mất hoặc hư hỏng.
Du lịch

Từ những năm 1990, Angkor Wat đã trở thành một địa điểm du lịch lớn. Năm 1993, chỉ có 7,650 du khách đến đây; đến năm 2004, số liệu chính phủ đã cho thấy đã có 561,000 du khách nước ngoài đến tỉnh Xiêm Riệp, chiếm xấp xỉ 50% lượng du khách nước ngoài đến Campuchia. Đến năm 2007 con số này là trên một triệu, và trên hai triệu vào năm 2012. Phần lớn mọi người đến thăm Angkor Wat với trên 2 triệu du khách nước ngoài năm 2013. Khu di tích được quản lý bởi tập đoàn tư nhân SOKIMEX, tổ chức đã thuê lại Angkor Wat từ Chính phủ Campuchia. Các dòng khách du lịch không gây ra thiệt hại nào đáng kể, trừ một số bức graffti; các bức điêu khắc đá và bề mặt sàn được bảo vệ bởi dây thừng và mặt gỗ. Du lịch cũng mang về một nguồn thu khác cho công tác bảo trì—cho đến năm 2000, khoảng 28% nguồn thu từ bán vé tại khu vực Angkor được sử dụng cho ngôi đền—cho dù phần lớn công việc được tiến hành bởi các đội được tài trợ bởi các chính phủ nước ngoài chứ không phải các nhà chức trách Campuchia

MỘT SỐ ĐỊA ĐIỂM CHỤP HÌNH ĐẸP Ở CAMPUCHIA

MỘT SỐ ĐỊA ĐIỂM CHỤP HÌNH ĐẸP Ở CAMPUCHIA
Cung điện Hoàng gia Campuchia
Là một trong những địa điểm tham quan mà du khách không thể bỏ qua khi đến Phnom Penh, cung điện được khởi xây sau khi vua Norodom chuyển đô từ Oudong về Phnom Penh. Cung điện Hoàng gia Campuchia là tổ hợp các tòa nhà, nơi ở của của Quốc vương và hoàng tộc. Du khách tới đây ngoài việc chụp hình với các kiến trúc bên trong, thì cũng không quên chụp hình cùng với đàn chin bồ câu ở phía trước cung điện.

Ảnh: brendansadventures.com
Quần thể di tích đền đài của Angkor
Không một ngôn ngữ và cảm xúc nào có thể diễn tả hết cảnh đẹp và sự tuyệt vời của Angkor, trừ khi bạn đến tận nơi và tận mắt nhìn thấy tất cả. Những kiến trúc sư từ thế kỷ thứ 8 cùng các tay thợ tài hoa nơi này đã tạo dựng nên một quần thể kiến trúc vĩ đại với 600 công trình nằm rải rác trong một vùng rừng núi rậm rạp rộng 45 km². Tuy nhiên, điểm đến thường được chụp hình nhiều nhất vẫn là Angkor Thom, Angkor Wat, đền Bayon và Ta Prohm.

 Ảnh: Insiderjourneys.co.uk
Koh Rong
Đảo Koh Rong nằm trong vịnh Thái Lan, cách thành phố biển Shihanoukville 20km. Chỉ với khoảng 2 giờ đi tàu trên biển vùng vịnh lặng gió. Đối lập hoàn toàn với Sihanoukville sôi động, đảo Koh Rong đích thực là một “thiên đường” hoang sơ và dịu êm khiến bạn mê mệt ngay khi đặt chân lên, nơi bạn sẽ được thư giãn hoàn toàn giữa làn nước biển trong vắt và có những bức ảnh “để đời”.
Ảnh: Girlmeetsglobe.com
Kep
Được người Pháp phát hiện và khai thác cách đây khoảng một thế kỷ, Kep được biết đến là nơi sở hữu vẻ đẹp tiềm ẩn từ chính sự tĩnh lặng hiếm có. Vẻ đẹp của Kep chủ yếu bao gồm những bãi biển xanh ngắt, những căn biệt thự cũ của Pháp, quán cà phê võng và các bungalows nhỏ nhắn, mộc mạc.
Ảnh:remotelands.com
Hồ Tonle Sap
Tonle Sap là hồ nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á và quan trọng bậc nhất Campuchia. Hồ nước trải rộng và thay đổi đáng kinh ngạc mỗi mùa. Từ tháng 11 tới tháng 5 là mùa khô ở Campuchia, Tonle Sap hầu như khô hạn trong khi tới mùa mưa, hồ trở nên rộng lớn hơn nhiều, với nhiều ngôi làng nổi của cư dân sinh sống tại đó. Ngồi trên thuyền du ngoạn ngắm cảnh trên hồ Tonle Sap sẽ là cơ hội để du khách có thể có những bức ảnh đẹp, và hiểu hơn về cuộc sống của người dân nơi đây.

Ảnh: Insiderjourneys.co.uk

Ẩm thực, ăn vặt, đặc sản của du lịch Campuchia

Ẩm thực, ăn vặt, đặc sản của du lịch Campuchia

1. Bai sach chrouk – cơm thịt heo

Bai sach chrouk, hay đơn giản là cơm thịt heo, là một trong những món đơn giản nhất tại quốc gia này. Thịt heo thái mỏng được nướng qua than hồng. Đôi khi, người ta ướp thịt heo với nước cốt dừa hoặc tỏi, khiến cho bai sach chrouk mang nhiều hương vị khác nhau ở những vùng khác nhau. Đi kèm với thịt heo nướng là cơm tấm, dưa chuột và củ cải, gừng và một bát nước dùng với hành tươi và hành khô phi thơm.


2. Cá sốt
Món này có sử dụng slok ngor, một loại thảo dược tại địa phương để tạo nên vị đắng. Cá được sốt với nước cốt dừa, kroeung, một loại bột cà ri Khmer làm từ cỏ chanh, nghệ tây, tỏi, hành và gừng. Trong các nhà hàng, cá sốt được hấp trong một chiếc bát làm từ lá chuối để giữ cho món ăn luôn nóng trước khi phục vụ khách hàng.

3. Cà ri Khmer đỏ
Không cay như cà ri Thái, cà ri Khmer đỏ lấy vị cốt dừa làm chủ đạo, mà không có bột ớt. Các loại thịt được sử dụng là bò, cá, gà kèm với cà tím, đậu đũa, khoai tây, nước dừa tươi, cỏ chanh và kroeung. Cà ri Khmer đỏ ăn kèm với bánh mỳ. Đi du lịch Campuchia thì phải 1 lần ăn được món này.


4. Lap Khmer – salad bò Khmer tái chanh
Lap Khmer thường có nhiều thịt bò hơn là salad. Một số dân bản địa thích thịt bò gần như tươi sống. Tuy nhiên, hầu hết các nhà hàng đều nướng qua thịt bò trước khi làm salad. Salad bò Khmer tái chanh gồm những miếng thịt bò thái mỏng được trần qua hoặc làm tái bằng nước chanh. Trộn cùng với cỏ chanh, hành, tỏi, nước mắm, húng quế, bạc hà, đậu đũa và tiêu tươi, thịt bò cho vị ngọt, mặn vừa đủ và thêm chút cay cay của ớt miếng.


5. Nom banh chok – mỳ Khmer
Nom banh chok có thể gọi đơn giản là món mỳ Khmer. Món ăn gồm mỳ gạo, cà ri xanh với cá, cỏ chanh, nghệ và chanh. Lá bạc hà tươi, đậu đũa, bột chuối, dưa chuột và một số loại rau xanh khác cũng được ăn kèm với nom banh chok.



6. Kdam chaa – cua rán
Cua rán là đặc sản của thị trấn Kep, Campuchia. Chợ cua nổi tiếng nơi đây được biết đến với món cua rán cùng tiêu xanh Kampot. Bạn chỉ có thể thưởng thức tiêu Kampot tươi khi du lịch Campuchia, và tuyệt vời nhất với món cua rán.


7. Kiến đỏ với thịt bò, húng quế
Kiến đỏ được đảo đều trên chảo rán cùng với gừng, cỏ chanh, tỏi, húng quế, nghệ và thịt bò thái mỏng. Hương vị của món này đậm đà hơn khi cho nhiều ớt. Món kiến đỏ có thể ăn kèm với cơm.

8. Ang dtray meuk – mực nướng
Ở các vùng biển của Campuchia, như Sihanoukville và Kep, có rất nhiều bác gánh hàng rong bán hải sản có những con mực trứng nướng vàng. Mực được tẩm nước chanh hoặc nước mắm, sau đó xiên vào que tre trước khi nướng. Món mực ăn kèm cùng nước tương với tiêu Kampot, tỏi, ớt, chanh và đường.

9. Cha houy teuk – chè thạch rau câu
Cha houy teuk có hương vị vô cùng phong phú, từ đậu đỏ, khoai môn, bí ngô và mít. Tất cả không thể thiếu nước cốt dừa.


10. Cá rán

Cá rán trên đĩa lửa chỉ được phục vụ trong các nhà hàng hoặc vào dịp lễ hội. Cá rán kèm sốt nước cốt dừa cà ri, kroeung vàng và ớt, được đặt trên chiếc đĩa lớn, hình cá. Các loại rau như xúp lơ, cải bắp được nấu cùng cà ri. Món cá rán này ăn chung với cơm hoặc mỳ. Người Campuchia gọi là trei bung kanh chhet.


Một số địa chỉ ăn ở Phnom Penh:
§  Chợ đêm (Phsa Reatrey) và chợ Kanda nằm ngay khu vực phố Tây mới (khu Sisowath Quay) có các món ăn chế biến theo đúng kiểu người Campuchia.
§  Nhà hàng Veng Nguon ở Sankat Phsar Kandal 1 cũng nằm ngay trung tâm khu phố Tây mới (khu Sisowath Quay), chuyên phục vụ món Hủ Tiếu Nam Vang.
§  Kiwi Bakery and Restaurant nằm ở góc đường Sisowath Boulevard với đường 130, Phnom Penh.
§  Các quán ăn vỉa hè đoạn đường đối diện với khách sạn Naga World (gần khu vực cầu kim cương). Điểm đặc biệt là du khách sẽ được ngồi chiếu để thưởng thức các món ăn dân dã như hột vịt lộn, cá viên chiên, bia, nước ngọt…

Một số địa chỉ ở Siem Reap:
§  Nhà hàng Khmer House ở khu vực Chợ Cũ Old Market, nơi bạn có thể tìm thấy hàng trăm món ăn truyền thống của Campuchia.
§  Quán Soup Dragon nằm ở giữa chợ Old Market, phục vụ các món ăn của người Khơ-me và các món ăn Âu, nhưng phổ biến là các món ăn Việt Nam như phở, canh chua cá lóc, thịt kho tộ… Đây là địa điểm được nhiều du khách Việt ghé đến.
§  Nhà hàng Khmer Kitchen có các món Tom Yum, Tom Kha, cà ri, sườn nướng (grilled rib bone)… khá hấp dẫn.
§  Nhà hàng Temple ở khu phố Tây (Pub Street) chuyên về ẩm thực Khmer

Du lịch Campuchia khám phá những ngôi đền Angkor độc đáo nhất

Du lịch Campuchia khám phá những ngôi đền Angkor độc đáo nhất
Du lịch tới “đất nước chùa tháp” Campuchia và khám phá vẻ đẹp của những ngôi đền Angkor độc đáo, sẽ là một trải nghiệm  khiến bạn không bao giờ quên.

Đền Angkor Wat
Khi nói về đất nước Campuchia, hình ảnh đầu tiên nổi bật nhất mà bạn để tâm đến là cái gì?
Tôi cá rằng, hầu hết các bạn sẽ nói những điều đại loại như “Đây là Angkor Wat, một trong những di tích tôn giáo lớn và dễ nhận biết nhất thế giới”. Nhưng trái ngược lại với tất cả những suy nghĩ phổ biến đó, thực ra Angkor Wat chỉ là MỘT ngôi đền ở Campuchia. Còn toàn bộ di tích đền thờ ở nơi đây được gọi chung là Angkor, một khu vực rộng lớn sở hữu hơn 1.000 ngôi đền có nhiều kích cỡ khác nhau.

Nơi đây đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới, và trở thành một điểm đến không thể bỏ qua cho bất cứ khách du lịch ba lô nào. Tôi cảm thấy mình rất may mắn khi được khám phá các ngôi đền ở đây trong thời gian 3 ngày, với sự hỗ trợ của một hướng dẫn viên người Siem Reap.
Nếu bạn không có quá nhiều thời gian để khám phá hết các ngôi đền ở nơi đây, thì những ngôi đền đẹp và độc đáo dưới đây là những nơi bạn không thể bỏ qua khi thăm quan quần thể di tích Angkor.
1. Angkor Wat
Đây là ngôi đền nổi tiếng nhất ở Campuchia, được xây dựng bởi vua Suryavarman II vào khoảng thế kỷ thứ 11. Lúc đầu, đây là một ngôi đền Hindu, nhưng sau khi Vương triều Khmer theo Phật giáo, thì Angkor Wat đã trở thành một ngôi đền Phật giáo.
Vẻ đẹp ấn tượng của Angkor Wat vào lúc bình minh.

Ngồi đền thực sự rất lớn và rực rỡ, được bao quanh bởi một bức tường lớn. Phía trước ngôi đền là một hồ nước được trồng rất nhiều hoa sen, trông rất duyên dáng. Bởi sự quá nổi tiếng của mình, nên Angkor Wat lúc nào cũng tấp nập du khách từ khắp nơi trên thế giới đến tham quan. Dòng người thường đổ về đây từ lúc trước 6 giờ sáng, xếp hàng dài học theo hồ nước phía trước để ngắm mặt trời mọc, và sau đó là vào tham quan ngôi đền chính. Chờ đợi xếp hàng để leo lên trên đỉnh tháp và bạn sẽ thấy, sự chờ đợi là không hề vô ích.

Leo lên đỉnh tòa tháp, nơi bạn có thể phóng tầm mắt nhìn ngắm vẻ đẹp của nơi đây.

Kiến trúc cổ kính


Khung cảnh đẹp nhìn từ bên ngoài
2. Bayon
Bayon nằm ở trung tâm quần thể Angkor Thom – kinh đô cuối cùng của đế chế Angkor. Khởi đầu, ngôi đền có 54 tháp lớn nhỏ, nhưng nay chỉ còn 37 tháp tương đối nguyên vẹn.
Kiến trúc của đền Bayon

 Trên mỗi tháp đều có những khuôn mặt khổng lồ tạc vào đá nhìn ra bốn hướng. Những gương mặt mang nụ cười bí ẩn đã khiến cho Bayon trở thành một trong những đền tháp ấn tượng nhất và nhiều cảm xúc nhất của Angkor.
Kiến trúc với những gương mặt mang nụ cười bí ẩn


3. Ta Prohm
Là một ngôi đền đặc biệt nhất trong quần thể Angkor, nơi đây càng trở nên nổi tiếng hơn khi diễn viên Angelina Jolie đóng phim “Bí mật ngôi mộ cổ”. Ngôi đền được xây theo phong cách Bayon vào khoảng cuối thế kỷ 12 và đầu thế kỷ 13, với tên gọi ban đầu là Rajavihara và trước đây được sử dụng như là một tu viện và trường học Phật giáo Đại thừa.
Những rễ cây cổ thụ mọc xung quanh ngôi đền là một nét đẹp ấn tượng của Ta Prohm.


Không giống như phần lớn đền tại Angkor, Ta Prohm đã bị bỏ quên với điều kiện như lúc mới xây: cảnh cây cối xung quanh phế tích và các khu rừng nhiệt đới bao quanh nó đã khiến nó là một trong những ngôi đền tại Angkor được du khách viếng thăm nhiều nhất.
Đường dẫn vào đền
4. Banteay Srei
Ngôi đền cuối cùng và bé nhỏ nhất tôi đến thăm là Banteay Srei. Đây không phải là một ngôi đền điển hình ở Angkor, vì nó nằm cách xa khoảng 25km từ những di tích lớn. Đền Banteay Srei được xây chủ yếu bằng đá sa thạch đỏ, một chất pha màu được thêm vào những bức điêu khắc trang trí tỉ mỉ trên tường, mà ngày nay vẫn còn nhìn thấy được.
Đền được xây chủ yếu bằng đá sa thạch đỏ

Đây sẽ là một điểm đến lý tưởng dành cho du khách vừa được khám phá những nét độc đáo trong kiến trúc của Angkor, vừa tránh được những đám đông khách du lịch khác.

Một số lưu ý nhỏ bạn nên biết khi thăm quan tại Angkor
Đi có kế hoạch
Bạn nên lên kế hoạch cho lịch trình tham quan các ngôi đền của mình, cho dù là thuê một người lái xe tuk-tuk, hoặc thuê một chiếc xe đạp trong một ngày. Bạn có thể tìm thấy những chiếc xe tuk-tuk ở khắp mọi nơi ở đây, và những người lái xe luôn sẵn sàng đưa bạn tới bất cứ ngôi đền nào nằm trong lịch trình của bạn.
Nên đi thăm các ngôi đền vào lúc sáng sớm
Thức dậy sớm và đi thăm những ngôi đền vào lúc sớm nhất có thể, là cách để bạn trải nghiệm đầy đủ nhất vẻ đẹp của các ngôi đền. Đi từ lúc tờ mờ sáng, không chỉ giúp bạn có cơ hội ngắm cảnh mặt trời mọc, mà còn có thể tránh được những đám đông, trước khi mặt trời bừng tỉnh và khiến mọi thứ trở nên “hỗn loạn”.
Ăn mặc kín đáo
Là một địa điểm tôn giáo tâm linh, do vậy bạn nên chú ý tới trang phục của mình, chỉ sắm một chiếc khăn choàng hoặc một chiếc sarong là không đủ ở Campuchia. Do vậy, ăn mặc kín đáo và lịch sự là cách tốt nhất để tránh những rắc rối có thể gặp phải.

Theo blog Adangerousbusiness